Drilling rigs
Drifter

Khai thác, chế biến khoáng sản cho hôm nay và cho mai sau

Việt Nam nằm ở vị trí giao nhau của 2 vành đai sinh khoáng: vành đai Tây Thái Bình Dương và vành đai Địa Trung Hải, vì vậy tài nguyên khoáng sản của Việt Nam đa dạng về chủng loại và tương đối phong phú. Theo kết quả điều tra đánh giá, thăm dò khoáng sản ở nước ta đến nay đã phát hiện được trên 5.000 mỏ và điểm quặng với trên 60 loại khoáng sản khác nhau.

Việt Nam nằm ở vị trí giao nhau của 2 vành đai sinh khoáng: vành đai Tây Thái Bình Dương và vành đai Địa Trung Hải, vì vậy tài nguyên khoáng sản của Việt Nam đa dạng về chủng loại và tương đối phong phú. Theo kết quả điều tra đánh giá, thăm dò khoáng sản ở nước ta đến nay đã phát hiện được trên 5.000 mỏ và điểm quặng với trên 60 loại khoáng sản khác nhau. Nhìn chung, tài nguyên khoáng sản nước ta phần lớn có quy mô trung bình và nhỏ, trong đó một số loại khoáng sản có tiềm năng đủ điều kiện để tổ chức khai thác, chế biến quy mô công nghiệp như: bauxit, titan-zircon, đất hiếm, apatit… nhưng cần đánh giá chính xác về trữ lượng; Than, dầu khí với trữ lượng đã biết và một số khoáng sản kim loại có quy mô trung bình và nhỏ như: sắt, đồng, chì, kẽm, mangan, cromit, thiếc, volfram, vàng, bạc… chỉ khai thác vài chục năm nữa sẽ cạn kiệt. Khoáng sản phi kim lọai và vật liệu xây dựng như đá vôi, nguyên liệu xi măng, đá hoa trắng, cát trắng... thì nhiều, có thể đáp ứng nhu cầu phát triển đất nước, nhưng ít có giá trị xuất khẩu; Một số loại khoáng sản có ít, nhưng có giá trị kinh tế, cần được tiếp tục nghiên cứu, đánh giá như: molypden, antimon, kim loại hiếm, đá quý rubi, saphia...

Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nhiều lọai khoáng sản được khai thác, chế biến để phục vụ nhu cầu tiêu dùng trong nước và một phần cho xuất khẩu. Hoạt động khoáng sản từng bước hướng tới gắn kết chặt chẽ giữa mục tiêu lợi nhuận, kinh tế với trách nhiệm bảo vệ môi trường, an toàn lao động, bảo vệ tài nguyên khoáng sản. Ngành khai khoáng đóng góp GDP mỗi năm khoảng 10% - 11%, thu ngân sách nhà nước khoảng 25%,  về cơ bản ngành này đã đáp ứng kịp thời nguyên liệu (than đá, thiếc, kẽm, sắt, đồng, apatit v.v.) cho các ngành kinh tế sử dụng nguyên liệu khoáng (nhiệt điện, ximăng, hóa chất, luyện kim...). Công nghiệp khai khoáng đã góp phần quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội, đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước [2].

Tuy nhiên, hoạt động khai thác, chế biến khoáng sản còn bộc lộ nhiều bất cập: Do chú trọng vào kinh tế, nhất là tăng trưởng GDP, ít chú ý đến bảo vệ môi trường nên tình trạng khai thác khoáng sản bừa bãi gây suy thoái môi trường và làm mất cân bằng sinh thái đang diễn ra ở nhiều nơi; Gần 10 năm thực hiện Quyết định 64/2003/QĐ-TTg, nhưng đến nay vẫn còn nhiều cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng (vùng than Quảng Ninh); Khai thác sử dụng tài nguyên khoáng sản chưa hợp lý, làm tổn thất, lãng phí tài nguyên quốc gia và gây bức xúc, áp lực lớn cho xã hội ở khu vực có hoạt động khoáng sản; Lập quy hoạch, kế hoạch, quyết định đầu tư dự án chưa tính toán đến các chi phí, lợi ích về mặt xã hội và môi trường; Việc phân cấp cho các địa phương trong cấp phép, quản lý khai thác, chế biến khoáng sản, bảo vệ môi trường đã được tiến hành, nhưng chưa thanh tra, kiểm tra kịp thời để xử lý các vi phạm pháp luật; Tài nguyên khoáng sản là sở hữu toàn dân, nhưng lợi ích từ hoạt động khoáng sản hiện tại chủ yếu thuộc về các công ty, cá nhân khai thác, chế biến khoáng sản. Lợi ích quốc gia, lợi ích xã hội chưa tương xứng với giá trị tài nguyên; Tài nguyên của đất nước bị sử dụng lãng phí, trong khi thu ngân sách được ít, chính quyền địa phương và cộng đồng dân cư phải gánh chịu hậu quả nặng nề về kinh tế, xã hội và môi trường, cần được khắc phục [2]. Trong bài viết này tác giả tổng hợp, phân tích về những vấn đề nêu trên thông qua nghiên cứu mẫu về khai thác, chế biến khoáng sản Titan trong cồn cát ven biển miền Trung Việt Nam.

2. Thiên nhiên ban tặng
Titan kim loại và hợp kim Titan là một trong những chất có triển vọng nhất thời đại ngày nay. Hợp kim Ti bền gấp 3 lần so với hợp kim Al, 5 lần so với hợp kim Mg; nhẹ bằng nửa so với thép; nhiệt độ nóng chảy cao gấp 3 lần Al với Mg. Chính vì những tính chất ưu việt đó mà Ti được coi là kim loại của thế kỷ 21, là nguyên liệu không thể thiếu trong các ngành công nghiệp quốc phòng, hàng không, y tế và thể thao. Các ngành công nghiệp ở nước ta hiện nay ngày càng cần nhiều sản phẩm của Ti, nhưng hầu hết đều phải nhập khẩu từ nước ngoài, trong khi ta có tài nguyên quặng Titan khá nhiều và có khả năng khai thác, tuyển luyện để sử dụng.

Việt Nam có bờ biển dài hơn 3.200km, trong đó ven biển miền Trung từ Thanh Hóa đến Bình Thuận có dải cồn cát hình thành hàng chục ngàn năm trong giai đoạn Holocen thời kỳ Đệ Tứ. Trong cồn cát này tích tụ nhiều loại khoáng sản, nhưng quan trọng và có giá trị nhất là quặng Titan. Quặng Titan sa khoáng ven biển là kiểu quặng có giá trị nhất hiện nay ở nước ta, có thể khai thác với quy mô công nghiệp. Trong loại quặng này, cát thạch anh (SiO2) chiếm tỷ lệ 95-99%, còn lại là các khoáng vật nặng (KVN), chủ yếu gồm: ilmenit (FeTiO3), zircon (ZrSiO4), rutin (TiO2), leucoxen, anataz (TiO2), monazit (Ce, La, Th) [PO4, SiO4]. Có thể gặp các khoáng vật khác như xenotim, manhetit…, nhưng với hàm lượng rất thấp. Sau khi tuyển thô, thường chỉ có ilmenit, zircon, rutil và monazit được thu hồi công nghiệp, trong đó Monazit, Xenotim, Zircon là những khoáng vật có chứa các nguyên tố phóng xạ (U, Th) [5].

Trữ lượng quặng Titan quy ra TiO2 trên thế giới khoảng 1,4 tỷ tấn. Trữ lượng quặng Titan của Việt Nam tính đến cấp C2 khoảng 14,03 triệu tấn, chiếm khoảng 0,5% trữ lượng của thế giới. Tổng trữ lượng và tài nguyên dự báo quặng Titan năm 2004 là 34,57 triệu tấn, trong đó chủ yếu là quặng sa khoáng, 30,17 triệu tấn. Sa khoáng Titan phân bố rộng rãi dọc theo chiều dài miền Trung, nhưng tập trung nhiều ở Thừa Thiên Huế, Bình Định và Bình Thuận. Đặc điểm thành tạo của các sa khoáng Titan tích tụ trong dải cồn cát ven biển là có nguồn gốc biển và gió. Tổng trữ lượng đã xác định năm 2004 của các mỏ sa khoáng Titan ven biển miền Trung đạt tới 8,154 triệu tấn, phân bố ở các tỉnh như sau: Thừa Thiên Huế 4.709.451 tấn, chiếm 57,8%; Bình Định 1.596.763 tấn, chiếm 19,6%; Bình Thuận 967.585 tấn, chiếm 11,9%; Quảng Trị 587.000 tấn, chiếm 7,2%; Khánh Hòa 128.300 tấn, chiếm 1,6%; Phú Yên 110.590 tấn, chiếm 1,4% và Quảng Nam 54.047tấn, chiếm 0,67%. Tổng trữ lượng các khoáng vật đi kèm trong tất cả các mỏ gồm: zircon 1.305.543 tấn, rutil 24.526 tấn và monazit 9.176 tấn. Ngoài ra, kết quả điều tra gần đây (2010) cho thấy sa khoáng Titan tập trung nhiều trong các tầng cát trắng, cát xám, cát đỏ, nhưng chủ yếu là trong tầng cát đỏ ở Bình Thuận – Ninh Thuận với tiềm năng tài nguyên dự báo khoảng 557 triệu tấn với hàm lượng Ilmenit trong các thân quặng thay đổi từ vài kg/m3 đến 195 kg/m3 [3,9].

Tiềm năng sa khoáng Titan lớn vừa là lợi thế, nhưng đồng thời cũng đặt ra cho các tỉnh miền Trung nhiều thách thức và rủi ro môi trường. Trên thực tế, việc phát triển ồ ạt các hoạt động kinh tế: du lịch, nuôi trồng thủy sản, khai thác sa khoáng Titan và các dự án phát triển kinh tế khác trong thời gian qua đã phá hủy những vùng cồn cát rộng lớn, có thể đẩy miền Trung rơi vào “Cái bẫy tài nguyên” mà nhiều quốc gia giàu tài nguyên ở Châu Phi đã mắc phải. Trong phạm vi bài viết này sẽ phân tích những hạn chế và bất cập trong công tác quản lý nhằm đề xuất những giải pháp hợp lý, phát huy tiềm năng sa khoáng Titan của vùng, thúc đẩy ngành khai khoáng phát triển bền vững, phòng tránh nguy cơ về “Cái bẫy tài nguyên”.