Drifter
Drifter parts
Forklift parts
drilling rig

Vấn đề bức xúc trong khai thác và chế biến quặng Titan

* Kỳ vọng và lo lắng khi khai thác quặng Titan trong cồn cát đỏ
Theo kết quả đề án “Điều tra, đánh giá tiềm năng sa khoáng Ti-Zr trong tầng cát đỏ vùng Ninh Thuận, Bình Thuận và bắc Bà Rịa- Vũng Tàu ” do Bộ TN&MT tiến hành 2009-2010: Tài nguyên dự tính sa khoáng Ti-Zr cấp 333 là 347,77 triệu tấn. Tài nguyên dự báo sa khoáng Ti-Zr cấp 334a là 210,17 triệu tấn. Tổng tài nguyên Ti-Zr cấp 333+334a là 557,94 triệu tấn, tức là gấp 2,8 lần so với mục tiêu đề ra. Kết quả này thực kỳ diệu, thật đáng mừng vì nó mở ra một triển vọng làm giàu cho đất nước nói chung và cho các tỉnh Bình Thuận, Ninh Thuận nói riêng.

Tuy nhiên, căn cứ vào những số liệu trong báo cáo đề án [4,10], thì có cơ sở để lo lắng rằng khối lượng tài nguyên dự báo đó không phù hợp thực tế khách quan bởi lẽ: (i) Hàm lượng biên tổng khoáng vật nặng có ích dùng để tính trữ lượng tài nguyên là 0,3% (tương đương 9kg/m3 là rất thấp); (ii) Hàm lượng trung bình tổng khoáng vật nặng có ích trong các khối địa chất tính trữ lượng là 0,45% (tương đương 13kg/m3, chứng tỏ đó là quặng nghèo). Cần nhớ rằng, hàm lượng trung bình của riêng nguyên tố Ti trong vỏ Trái đất đã là 0,45%); (iii) Hàm lượng trung bình tổng khoáng vật nặng có ích trong từng thân quặng dao động từ thấp nhất 0,45% đến cao nhất 0,81% (tương đương 13- 24kg/m3 chứng tỏ không có quặng giàu); (iv) Chiều dày lớp kẹp tối đa tham gia tính tài nguyên là 2,5m, chứng tỏ khối lượng cát không quặng chiếm tỷ lệ cao trong thể tích của khối địa chất tính tài nguyên; (v) Chiều dày thân quặng trong tầng cát đỏ dao động 30-200m, cho thấy quặng ở đây phân bố rất sâu, lại nằm ven bờ biển, nên khi khai thác sẽ gặp rất nhiều khó khăn về công nghệ mỏ và giá thành sản phẩm quặng sẽ không có tính cạnh tranh. Vì vậy, ở đây cần thăm dò đánh giá trữ lượng chính xác hơn, cần tính toán chi phí-lợi ích mở rộng, hiệu quả kinh tế, hậu quả môi trường, nhất là quá trình sa mạc hóa trong điều kiện khí hậu khô nóng của vùng và cuối cùng là lựa chọn sự đánh đổi giữa khai thác Titan và phát triển các ngành kinh tế khác [6].

* Không tương thích giữa yêu cầu chế biến sâu quặng Titan và thuế xuất khẩu
Quặng Titan chế biến càng sâu, thì giá trị càng cao, nhất là các đơn khoáng. Giá thương mại tại thị trường Luân Đôn đối với sản phẩm Titan: Inmenit FeTiO3 ( ≥ 51,5%TiO2) là  120 USD/tấn năm 2010; Rutin TiO2( 88 – 90%TiO2) là 300 USD/tấn, năm 2007; Zircon ( ≥ 65%ZrO2) là 1000 USD/tấn vào năm 2010. Sản phẩm chế biến sâu thì giá xuất khẩu càng cao. Inmenit 51,5%TiO2 giá xuất khẩu chỉ là 120 USD/tấn; chế biến xỉ Titan thì giá sản phẩm tăng khoảng 2,5 lần; sản xuất được Pigment thì tăng khoảng 10 lần; sản xuất được Titan kim loại thì gấp 80 lần.

Như vậy, khai thác và xuất khẩu quặng thô, thì giá bán quặng rất thấp và nguồn thu của nhà nước không tương xứng với giá trị của tài nguyên. Theo Luật khoáng sản, Nhà nước chủ trương hạn chế xuất khẩu khoáng sản dạng thô, khuyến khích chế biến sâu, nhưng trên thực tế lại có sự mâu thuẫn với khung thuế xuất: Quặng tinh xuất khẩu chịu mức thuế (20%), còn sản phẩm qua chế biến sâu thì chịu thuế xuất khẩu lại là 18%. Kết quả tính toán của Sở Công thương tỉnh Bình Định 10/2009 cho thấy với mức thuế 18%, xuất khẩu sản phẩm qua chế biến sâu sẽ bị lỗ; Chỉ với mức thuế xuất khẩu < 5% thì mới có lãi. Vì vậy các doanh nghiệp ngại chế biến sâu do phải đầu tư lớn, mà không thu được lợi. Đó chính là sự chồng chéo trong các văn bản pháp luật liên quan đến hoạt động khoáng sản, cần được khắc phục.

* Nguy cơ về “Lời nguyền tài nguyên hay Cái bẫy tài nguyên”
Là nước có tiềm năng khoáng sản đa dạng, nhưng với hiện trạng khai thác và chế biến khoáng sản, bao gồm cả quặng Titan trong thời gian qua có thể đẩy Việt Nam rơi vào “Lời nguyền tài nguyên hay Cái bẫy tài nguyên” mà nhiều quốc gia giàu tài nguyên ở Châu Phi đã mắc phải. Cái bẫy tài nguyên (CBTN) là hiện tượng các nền kinh tế giàu tài nguyên thiên nhiên có xu hướng phát triển chậm hơn những nền kinh tế không có các tài nguyên thiên nhiên đáng kể. Trên thế giới có nhiều quốc gia đã rơi vào CBTN như Nigeria, Angola, Hà Lan… là do mất cân đối trong cơ cấu kinh tế, do nền quản trị yếu kém và lạc hậu về khoa học công nghệ [4]. Ngược lại, có một số quốc gia đã tránh được CBTN bằng những chính sách, chế tài hợp lý và nền quản trị chặt chẽ, điển hình ở khu vực Đông Nam Á là Indonesia. Liệu Việt Nam sẽ rơi vào CBTN như Nigeria, hay tránh được CBTN như Indonesia ? Điều đó phụ thuộc rất lớn vào vấn đề quản lý. Một nền quản lý chặt chẽ, rõ ràng, minh bạch trong khai thác, chế biến khoáng sản là một trong những mắt xích quan trọng nhằm giúp Việt Nam tránh được CBTN [4].